Hinh dong de thuong,ten mien la gi
ví thử điều kiện làm việc như nhau, nhà khoa học ở Mỹ nhận lương 3.000 USD và làm thuê trình khoa học trong một năm, thì cũng anh đó ở Việt Nam lương 150 USD và mất 20 năm mới ra được công trình khoa học là điều chấp thuận được.
Anh Nguyễn Thanh Tùng, làm việc tại khoa Vật lý và Thiên văn học, Đại học Leuven, Vương quốc Bỉ, tham dự diễn đàn: "tại sao các nhà khoa học làm việc trong nước ít có công trình nghiên cứu đăng trên tùng san nước ngoài". Anh cho rằng nền kinh tế Việt Nam còn kém phát triển, do vậy, Việt Nam khó có thể đột ngột tăng lương cho nhà khoa học, dồn tiền cho phòng thí điểm.
"Tôi thấy đa phần chúng ta đều thấy thực trạng của nền khoa học Việt Nam qua các con số, thông báo và phân tách của các học giả có uy tín ở nước ngoài ở các bài viết trước đăng trên VnExpress, nhất là bài viết của tấn sĩ Bùi Dương khiến chúng ta không khỏi giật thột: "Theo thống kê Viện thông báo khoa học (ISI), trong 15 năm qua (1996-2011) Việt Nam mới có 13.172 ấn phẩm khoa học ban bố trên các tùng san quốc tế có bình duyệt, bằng khoảng một phần năm của Thái Lan (69.637), một phần sáu của Malaysia (75.530), và một phần mười của Singapore (126.881). Trong khi đó, dân số Việt Nam gấp 17 lần Singapore, ba lần Malaysia và gần gấp rưỡi Thái lan".
Đó là những con số đáng báo động và chúng ta phải hành động ngay khi quá muộn. Các giải pháp nhắc đến nhiều như đầu tư thỏa đáng, lôi kéo giới khoa học quốc tế về giảng dạy và làm việc, quốc tế hóa tiêu chuẩn đánh giá khoa học, nhưng với các giải pháp đó, chúng ta sẽ chữa trị không tận gốc vấn đề của khoa học Việt Nam.
Tôi xin đưa ra đây vài con số để các bạn thấy, không phải quá mới, song nghe đâu do vậy mà mọi người coi nó là thường ngày. Theo ít phát triển Việt Nam 2009 của nhà băng Thế giới, thu nhập bình quân đầu người Việt Nam tụt hậu 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore. Năm 2010, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam chỉ bằng một phần năm Thái Lan, một phần tám Malaysia và một phần bốn ba so với Singapore.
Phải nhận rằng vai trò từ tương trợ tài chính rất quan yếu đối với khoa học công nghệ, kể cả nghiên cứu căn bản lẫn vận dụng. Trong phần nhiều các lĩnh vực khoa học, nhà khoa học với sự tương trợ của cỗ máy tối tân có thể hơn cả trăm nhà khoa học mà trong tay chỉ có bút và giấy.
lương cũng rất quan yếu. Khi thế giới trở thành phẳng, chiếc iPhone có giá hầu như thường đổi trên mọi nhà nước, thì việc đòi hỏi nhà khoa học trả 150 USD/tháng, kể cả khi có đầy đủ máy móc, làm việc tương đương với một nhà khoa học được trả 3.000 USD/tháng là quá vô lý.
ví thử điều kiện làm việc ở Việt Nam và Mỹ tương đương, nếu nhà khoa học nhận lương 3.000 USD và sinh sản công trình khoa học trong một năm, thì việc nhà khoa học Việt Nam đó nhận lương 150 USD và mất 20 năm mới ra được công trình khoa học là hoàn toàn chấp thuận được, theo cách hiểu đơn giản về hiệu suất kinh tế. tỉ dụ này không phải để bao che cho sự chậm tiến bộ của khoa học Việt Nam, mà tôi cho rằng, chúng ta nên nhóng sự phát triển của khoa học Việt trong mối quan hệ biện chứng với nền kinh tế. Nói nôm na là "có thực mới vực được đạo".
Ai cũng biết giới khoa học không sống bằng 3 triệu đồng bạc lương, nhưng hàng tháng, họ vẫn nhận món lương "trả" này và đáp lại là nghiên cứu "trả". Tuy nhiên, chúng ta chẳng thể đột ngột tăng lương cho nhà khoa học, dồn tiền cho phòng thí điểm, vì như thế sẽ phá vỡ cân bằng của từng lớp, tạo ra sự bất công cho các lĩnh vực khác, như giáo dục, y tế, quốc phòng, văn hóa, thể thao.
Nền kinh tế là trái tim của cả nước. Trái tim yếu ớt thì các bộ phận chẳng thể phát triển được. Và đấy là lý do không chỉ khoa học, mà nhiều lĩnh vực khác của Việt Nam cũng chưa có dấu hiệu khởi sắc.